Võ sư Trương Văn Bảo

Đại đao được suy tôn là “bách quân chi nguyên soái”, có nghĩa là nguyên soái của trăm quân. Đao pháp chủ yếu có chém, bổ, miết, khều, xoay, gác, kéo, đẩy … Các loại đao pháp đều vận dụng rõ ràng ở lưỡi đao nên gọi là “đại đao xem lưỡi”. Khi thi triển đại đao, một chiêu, một thức bổ mạnh, chém rộng, một động, một tĩnh uy vũ đường đường.                         
                                                      
Sử chép rằng Lý Thường Kiệt (1019 - 1105), danh tướng triều Lý, oai phong lẫm liệt trên lưng ngựa, bằng những võ công kỳ vĩ, với thanh đại đao tung hoành chiến trận Bắc đánh Tống, Nam bình Chiêm bách chiến bách thắng, đã làm rạng rỡ một thời cho tổ quốc.
 Sách Võ nhân Bình Định của Quách Tấn - Quách Giao ghi lại thời Tây Sơn có Tam Thần Đao đó là Ô long đao của Nguyễn Huệ, Huỳnh long đao của Trần Quang Diệu và Xích long đao của Lê Sĩ Hoàng.
 Ô long đao là tên đao của Nguyẽn Huệ. Truyền rằng một hôm đi tuần nơi đèo An Khê, khi cùng anh là Nguyễn Nhạc lo xây dựng cơ đồ khởi nghĩa, để tạo không khí thần linh, Nguyễn Huệ đã loan tin có hai con rắn mun lớn đón đường dâng đao rồi từ tạ vào rừng. Tại nơi rắn dâng đao, Nguyễn Huệ cho lập miếu thờ gọi là Miếu Xà.
 Thanh Ô long đao, cán bằng gỗ mun đen nhánh, lưỡi đao cũng bằng một loại kim khí màu đen, không có hào quang mà chỉ có khí lạnh. Trong trận Rạch Gầm, Xoài Mút năm Giáp Thìn (1785) Nguyễn Huệ đã sử dụng thanh Ô long đao chém tướng quân Xiêm lên đến hằng trăm người. Năm Kỷ Dậu (1789) Ô long đao lại đẫm máu quân Thanh xâm lược.
 Huỳnh long đao là thanh thần đao của sư phụ Diệp Đình Tòng truyền tặng cho tướng quân Trần Quang Diệu. Sở dĩ có tên Huỳnh long vì tại nơi đầu con cù ngậm lưỡi đao được thếp vàng. Cặp song đao Ô long và Huỳnh long phối hợp tung hoành trong trận đánh quân Xiêm. Các chiến công của Trần Quang Diệu đều do thanh Huỳnh long góp phần tạo nên. 
Xích long đao của tướng Lê Sĩ Hòang. Sở dĩ có tên Xích long vì tại nơi đầu con cù ngậm lưỡi đao được sơn màu đỏ. Nguyên sau khi dẹp xong quân Mãn Thanh, Vua Quang Trung mở hội thi võ để chọn thêm nhân tài giữ nước. Lê Sĩ Hòang, người quê Quảng Nam ra kinh ứng thí. Hoàng dũng sĩ, lúc nhỏ nhà nghèo, chăn trâu cho một phú ông trong thôn. Nhà gần núi nên một hôm trâu bị cọp bắt, Hoàng sợ chủ hỏi tội nên chạy trốn vào rừng sâu. Lạc đường không tìm được lối ra, gặp dị nhân truyền thụ võ nghệ. Lê Sĩ Hoàng có sức mạnh hơn người, võ nghệ tuyệt luân, chuyên sử dụng cây Xích long đao của sư phụ truyền cho.

Picture50.jpg
Kỹ thuật sử dụng đao phần lớn hai tay phải cầm chắc lấy đao mà vũ động.

Trong chiến tranh xưa, đại đao thường dùng cho chiến tướng làm vũ khí giao đấu ở trên lưng ngựa, uy lực rất lớn. Cả cây đao do thân đao, cán đao, đĩa đao và vòng kêu là bốn bộ phận lớn cấu tạo nên. Một số chủng loại đao nổi tiếng như Quan Công đại đao (Guan Yi big knife), Thanh long yểm nguyệt đao (The big knife with a green dragon and the crescent moon), Xuân Thu đại đao (The big knife of Spring and Autumn), Cửu hoàn đại đao (Nine rings big knife) Trảm mã đao (Chop horse big knife)…
 
Luận về đại đao, Hán Thọ Đình Hầu Quan Vân Trường - một trong ngũ hổ tướng đời Tam Quốc (221 - 265), được hậu thế tôn xưng là Thánh “Trung nghĩa thiên thu” (God of Righteousness), là người rất nổi tiếng về sử dụng Thanh long đại đao nói rằng: “Đường đao dễ phát khó thu, khó mà nắm cho linh hoạt được, để bù lấp khuyết điểm ấy phải rèn sức tay, tập trung sức lực vào hai cánh tay, dồn vào cán đầu, dùng sức làm cho cánh tay bạt đao hợp nhất, như vậy mới có thể sử dụng linh hoạt và như ý.”
 
Một số bài đại đao tiêu biểu Võ cổ truyền Việt Nam.
 
BÀI ĐẠI ĐAO Ô LONG HÍ NGUYỆT
 
Khuynh thân bái tổ.
O long hí nguyệt.
Hạ bản tiền đao.
Túc trí anh hào.
Hồi đao trảm nghịch.
Phiên thân truy kích.
Trấn ải đồng quan.
Tấn đả trung lang.
Ô long hí nguyệt.
Hạ mã hồi đao.
Hồi thân trảm quyết.
Long xa phản hồi.
               (Bình Định chân truyền
                Võ đường Kim Sơn - TPHCM)
 
        BÀI LÔI LONG ĐẠI ĐAO
 
Bái tổ Lôi long đao.
Bắc sát kình phong.
Nam lôi thanh thế.
Thần đao đoạn kiếm.
Kiếm đoạn thương thần.
Trùng hình đoạn pháp.
Pháp đoạn hùng binh.
Lôi long lịnh trảm.
Thiên địa tuần hoàn.
           (Nguyên tác: Đô đốc Võ Văn Dũng.
            Người sao lục: Hư Linh Ẩn Nguyễn Trung Như
            Đệ tử đời thứ 8 dòng Hư Minh)