* Võ sư Trần Xuân Mẫn

Trước năm 1306, khi chưa sát nhập vào Đại Việt, đất cũ Hội An đã từng có nền Chămpa: Gangaragia, Panduranga và Indrapura.võ thuật phát triển cao kéo dài hằng mấy trăm năm trong quân đội của ba vương triều.

Khi người Việt, chủ yếu là cư dân vùng Thanh Nghệ theo chân các Chúa Nguyễn mở rộng đất phương Nam, di cư vào sinh cơ lập nghiệp trước thế kỷ thứ XV, đã mang theo nền võ thuật cổ truyền dân tộc đa dạng và luôn được trui rèn, biến hóa, nâng cao để phù hợp với công cuộc đấu tranh tồn tại trên một vùng đất mới chịu nhiều tác động khắc nghiệt: Rừng thiêng nước độc, dã thú, thiên tai, chiến tranh giằng co giữa các thế lực chính trị.
Thời Chúa Nguyễn Phúc Nguyên mới mở Hội An và xây dựng thành thương cảng sầm uất từ năm 1602 đến hết nửa đầu thế kỷ XVII, người Nhật đã đến lập phố lưu cư, hành nghề thương mại và giúp Chúa Nguyễn củng cố binh quyền. Chính quyền cai quản Hội An vào thời đó đã đặt nặng quân sự với một nền võ thuật cổ truyền chuyên sử dụng bửu kiếm do người Nhật chế tác. Trong quyển sách "Hội An" xuất bản bằng hai thứ tiếng Việt và Pháp, nhà nghiên cứu lịch sử Nguyễn Văn Xuân đã đưa ra nhận định rằng ở thời này người ta trọng võ, khinh văn.
Từ năm 1775, nhà Tây Sơn đưa quân đến Hội An rồi trấn giữ Quảng Nam một thời gian, lưu lại dòng võ Tây Sơn, một dòng phái võ thuật đặc thù, phát triển cực kỳ rực rỡ, tồn tại mãi về sau, kể cả trong 143 năm dưới triều các vua nhà Nguyễn.
Nửa sau thế kỷ XVII, chúa Nguyễn bắt đầu khủng bố người theo đạo Công giáo làm người Nhật hoảng sợ phải bỏ Hội An ra đi, Phố Nhật suy tàn dần đến cuối thế kỷ XVII thì hầu như không còn nữa. Trong quãng thời gian này, Hoa kiều đổ sang xứ Đàng Trong, nhất là từ Quảng Nam trở vào, sinh sống bằng con đường giao thương với người Việt qua biển Đông. Họ mang theo nhân tài, vật lực, nhiều nghề tinh xảo và cả nền võ thuật lâu đời của họ du nhập vào Hội An.

Picture33.jpg
 
Chỉ vài mươi năm sau, công việc thương mại phát đạt đã tạo nên nhiều thương gia người Hoa giàu có đến mức có thể bỏ tiền chiêu mộ binh lính, tổ chức đạo quân do Lý Tài cầm đầu, lúc đầu ủng hộ Nguyễn Nhạc phò tá hoàng tôn Nguyễn Phước Dương (hậu duệ chúa Nguyễn) về Hội An, về sau lại trở cờ chống Tây Sơn. Trong thời gian này, đông đảo người Hoa đã lập gia đình và làm đơn xin chúa Nguyễn cho phép lập ra làng Minh Hương để định cư hẳn trên đất Hội An. Người Hoa vừa thông qua công tác huấn luyện đạo quân Lý Tài vừa thông qua Sơn Đông mãi võ để bán thuốc và quảng bá võ cổ truyền của họ. Tuy nhiên, chỉ sau một thời gian không lâu, võ thuật Trung Hoa không tồn tại biệt lập mà được chuyển hóa từ đặc trưng cương ngạnh, dựa vào sức mạnh, sang nghệ thuật chiến đấu cương nhu phối triển của người Việt và hòa nhập vào các dòng võ truyền thống thuần Việt, góp phần làm phong phú nền võ thuật cổ truyền trên đất Hội An.
Dưới thời Pháp thuộc, thực dân nghiêm cấm nhân dân ta tập võ dân tộc trong một thời gian dài nhưng người Hội An vẫn lén lút tập luyện, lưu truyền võ thuật cổ truyền ở nơi thanh vắng, xa chốn đô thị như sân chùa, nghĩa địa, cửa suối, đồng xa, lúc đầu là trong gia đình, sau đó mở rộng ra dòng họ, làng xã.
Khi người Pháp đưa Quyền Anh vào Đông Dương và dựng võ đài tổ chức thi đấu (vào khoảng năm 1925), các võ sĩ Việt Nam tập Quyền Anh thượng đài tranh tài rồi "lái" dần Quyền Anh sang "Võ Tự do" để khôi phục kỹ thuật võ cổ truyền dân tộc. Để phân biệt với võ nước ngoài (là Quyền Anh), danh từ "Võ Ta" ra đời để khẳng định đây là Võ của Ta. Từ thời điểm này đến trước khi cách mạng tháng Tám nổ ra, nhiều võ đài Tự do được dựng lên ở Hội An tại các Hội chợ đấu xảo thương mại, thu hút nhiều võ sĩ thời danh của Quảng Nam thượng đài như: Chánh Lơn, Hồ Cưu, Bùi Hý, Năm Sửu, Trương Khả, Lê Hoan, Lưu Thanh Bình, Tư Phụng, Nguyễn Bầu...
Trong kháng chiến chống Pháp, các võ sĩ Hội An như Năm Khê, Đội Chưởng đã ngày đêm huấn luyện kỹ thuật cận chiến, sử dụng gậy, kiếm, dáo mác cho dân quân và lực lượng vũ trang cách mạng.
Sau năm 1954, một số võ sĩ lớn tuổi như Nguyễn Khê, Trương Chưởng, Hà Sửu, Trần A Hòa truyền dạy võ thuật dưới hình thức gia truyền. Năm 1973, các võ đường Kỳ Sơn, Ngũ Phụng Sơn, Trường An được thành lập và gia nhập Liên đoàn Quyền thuật quân khu I thuộc Tổng cuộc Quyền thuật Việt Nam, nhiều thanh, thiếu niên theo học rất đông. Thời gian này, thầy Trần A Hòa với sự giúp đỡ của học trò là thầy giáo Trần Do, đã mở lớp võ thuật Thiếu Lâm tại trường trung học Trần Quý Cáp để đưa võ cổ truyền vào trường học phổ thông.
Sau ngày đất nước thống nhất, nhất là từ năm 1988 về sau, chín câu lạc bộ võ thuật cổ truyền lần lượt ra đời, hoạt động thường xuyên và tổ chức có nề nếp bền vững. Trong vòng từ năm 1990 đến nay, các võ sĩ Hội An đã tham gia thi đấu thường xuyên các giải võ thuật toàn tỉnh và trong hơn mười năm liền đã được tuyển chọn vào đội tuyển võ cổ truyền tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam thi đấu các giải toàn quốc. Thành tích của võ cổ truyền Hội An đã được chứng minh bằng gần 200 huy chương, trong đó có gần 70 huy chương cấp quốc gia, 2 kiện tướng và 3 vận động viên cấp 1.
Đặc biệt, khi Hội An được Unesco công nhận là di sản văn hóa thế giới vào tháng 12 năm 1999, võ thuật cổ truyền đã góp phần không nhỏ vào hoạt động khôi phục các giá trị văn hóa truyền thống của địa phương. Hàng ngàn lượt võ sinh đã tham gia vào các buổi diễn xướng sân khấu hóa lễ hội, đồng diễn võ thuật tại các đại lễ trong nhiều năm liền. Càng về sau, một số câu lạc bộ võ thuật đã mở rộng hoạt động sang các lĩnh vực khai thác, ứng dụng võ cổ truyền để phục vụ du lịch ngày càng phát triển. Nhiều câu lạc bộ tổ chức các đoàn lân sư rồng, cờ người võ, múa cờ hội, trống võ, thi đấu roi trường, biểu diễn võ thuật, dạy võ dưỡng sinh và võ cổ truyền cho du khách là người nước ngoài. Các đề tài nghiên cứu về roi trường, võ dưỡng sinh, các bài võ cổ bản, địa chí võ thuật... đã được một số câu lạc bộ và các võ sư tâm huyết sưu tầm, nghiên cứu, biên soạn, in thành sách để bảo tồn, lưu truyền về sau.
Để giữ cho Võ Ta, Võ Cổ truyền dân tộc (ngày nay được gọi là Võ Cổ truyền Việt Nam) không bị tam sao thất bổn hoặc tổn thất, chính chúng ta (các võ sư, võ sĩ, võ đường) chứ không phải ai khác, cần có những suy nghĩ và việc làm cụ thể bảo vệ sự trong sáng và nguyên vẹn diện mạo võ cổ truyền dân tộc như một quốc bảo ./.