* Võ sư Trương Văn Bảo  Liên đoàn Võ thuật cổ truyền Việt Nam

Thiền trượng theo kinh điển nhà Phật gọi là Tích trượng, được các Bồ Tát  dùng như một pháp khí với mục đích cao cả làm phương tiện hành đạo phổ độ chúng sinh. Theo kinh Phật giáo Đại thừa, Bồ Tát là hành giả sau khi hành trì Ba la mật đa chứng thành Phật quả nhưng thệ nguyện độ khắp chúng sinh, khi chúng sinh chưa giác ngộ thì chưa nhập Niết bàn.
 
Thiếu Lâm Phật Gia Quyền, môn võ từ cửa Phật, theo dòng chảy Thiền tông, lấy từ bi, giác ngộ làm hành trang đi vào cuộc sống, lấy sự rèn tập làm phương tiện để cường kiện thể phách, điều phục vọng tâm. Thiền trượng chỉ là vật tượng hình để hàng phục “ma vương”, tảo trừ vọng niệm, tự thắng bản thân.
 
Ngày nay trong số các loại hình binh khí Võ thuật cổ truyền có tên Thiền trượng. Đáng tiếc một điều là nhiều người dùng trượng nhưng ngộ nhận về nguồn gốc, ý nghĩa, yếu lĩnh, kỹ pháp, hình tướng của trượng.
 
Theo sách Phật: Địa Tạng Vương Bồ Tát (Bodhisattva Ksitigarbha) đại từ đại bi thệ nguyện độ thế rất rộng lớn, cứu sinh linh trong địa ngục. (Địa là đất, tạng là trùm chứa). Trong khi phát tâm ngài có nguyện rằng: “Địa ngục mà còn chúng sanh thì ta không chứng quả Bồ đề và sẽ không thành Phật”. Ngài Địa Tạng Vương Bồ Tát một tay cầm Như ý châu, một tay cầm Tích trượng có sáu vòng, biểu hiện sự cứu độ chúng sinh trong lục đạo.
Picture24.jpg
Tích trượng là trí trượng, biểu thị cho trí huệ sáng suốt của người tu hành, cũng còn có nghĩa là minh trượng và thanh trượng, nghĩa là khi sử dụng thì phát ra âm thanh như tiếng chim kêu. Trong tích trượng chứa đủ tứ diệu đế và thập nhị nhơn duyên; đây là tích trượng của Phật pháp. Theo Tích trượng kinh: Tích trượng của Phật Ca Diếp cóhai gọng và mười hai vòng tượng trưng cho hai đế là chơn đế, tục đế và thập nhị nhân duyên. Tích trượng của Phật Thích Ca có bốn gọng và mười hai vòng tượng trưng cho tứ đế và thập nhị nhân duyên.
 
CHƠN ĐẾ:
 
Chơn đế là thuật ngữ chuyên môn nhà Phật, danh từ nghe đơn giản nhưng triết lý thậm thâm vi diệu. Chơn đế là chân lý tối thượng, chân thật không hư vọng, là chân tâm, giác tánh, chân như, còn gọi là Đệ nhất đế hay Đệ nhất nghĩa đế. Giác ngộ chân lý tuyệt đối phải bằng con đường tu tập. Chơn đế chính là pháp vô vi. Giá trị đích thực của Chơn đế không phải là chứng quả hay không chứng quả Bồ đề, thành Phật hay không thành Phật, vì tất cả mê, ngộ vốn là “không”; cấu, tịnh đều bình đẳng. “Không” không có nghĩa là “không” mà là “sắc bất dị không, không bất dị sắc; sắc tức thị không, không tức thị sắc” như trong kinh Bát Nhã Ba La Mật Đa.
 
TỤC ĐẾ:
 
Tục đế là thuật ngữ chuyên môn nhà Phật. “Tục” nghĩa là thế tục, phàm tục; “đế” là chân lý. Tục đế là chân lý thế tục, thực tại tương đối, là những điều mà nhân sinh trong trần thế đồng ý với nhau, quy ước hay chân lý tương đối do người đời đặt để mà thuận theo trong hành xử thế tục, là hiện tượng do duyên khởi tức là pháp sinh diệt trong thế gian. Căn cơ của con người không giống nhau, tham dục không đồng đều, tu chứng khác nhau. Không có “địa ngục” thì làm gì mà tu chứng niết bàn. Sống giữa cõi “ta bà” mà muốn toàn chân, toàn thiện, toàn mỹ là điều không tưởng. Lấy sức hữu hạn mà đấu với vô cùng sẽ không bao giờ thủ thắng.
 
TỨ DIỆU ĐẾ:
 
Tứ đế hay tứ diệu đế là bốn chân lý nhiệm mầu. Đây là thuật ngữ được Hán dịch từ chữ Phạn “Catvary Aryasatyani”. Arya là cao quý, nhiệm mầu; Satya là đế, là sự thật là chân lý.
Khổ đế (Dukkha) là thực trạng đau khổ của con người cảm nhận từ lúc lọt lòng cho đến khi nhắm mắt xuôi tay, không ai phủ nhận điều đó. Con người luôn có xu hướng vượt thoát khổ đau, tìm kiếm hạnh phúc nhưng vì không hiểu rõ bản chất của khổ đau nên không tìm ra lối thoát thực sự, đôi khi ngược lại, càng tìm kiếm hạnh phúc càng vướng vào khổ đau. Khổ đế là một sự thật về bản chất cái khổ. Phật dạy: sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, thương yêu mà biệt ly là khổ, cầu mong mà không được là khổ. Tất cả là cảm giác đau khổ về thân xác, bức xúc hoàn cảnh, không toại nguyện tâm lý.
Tập đế (Samudaya) là nguyên nhân dẫn đến thực trạng của sự đau khổ, là tích tập các phiền não tụ hội thành năng lực đưa đến khổ đau. Nguyên nhân phát sinh sự khổ từ vật chất hay hoàn cảnh xã hội, từ tham ái; do tham ái mà chấp thủ, bám víu vào các đối tượng tham ái. Sự khát khao về dục lạc, sự thoả mãn tâm lý sẽ dẫn đến khổ đau vì không bao giờ đạt đến lòng khát khao ấy. Nguyên nhân sâu hơn và căn bản hơn là “vô minh”, có nghĩa là không thấy rõ bản chất sự vật nên bám víu theo đuổi để rồi kiệt sức vì khổ đau.
 
Diệt đế (Nirodha) là kết thúc khổ đau, chấm dứt phiền não mang lại sự an lạc. Diệt đế đồng nghĩa với Niết bàn (Nirvana hay là Nibbàna). Sự tu tập sẽ mang lại hạnh phúc tối thượng.
Đạo đế (Magga) là con đường, là phương pháp thực hành để chấm dứt khổ đau. Tất cả pháp môn, giáo lý Phật dạy đều là Đạo đế, thực tu, thực chứng.
 
THẬP NHỊ NHÂN DUYÊN:
 
Vạn sự do nhân duyên mà phát khởi, nhân duyên hội họp thì gọi là sanh, nhân duyên tan rã thì gọi là diệt; sư thật vốn không có gì là sanh diệt cả. Mười hai nhân duyên là một dây chuyền liên tục duyên ra nhau, ấy là vô minh duyên ra hành, hành duyên ra thức, thức duyên ra danh sắc, danh sắc duyên ra lục nhập, lục nhập duyên ra xúc, xúc duyên ra thọ, thọ duyên ra ái, ái duyên ra thủ, thủ duyên ra hữu, hữu duyên ra sinh, sinh duyên ra lão, tử.

Theo kinh Duyên khởi, mười hai nhân duyên cụ thể như sau:

1. Vô minh: Sự không thấu hiểu tứ diệu đế, không hiểu khổ là tính chất căn bản của đời sống
2. Vô minh sinh hành: Hành là hành động tạo nghiệp. Hành động này có thể tốt, xấu hay trung tính. Hành có thể ở trong ba dạng: thân, khẩu và ý
3. Hành sinh thức làm nền tảng cho một đời sống tới. Thức này đi vào bụng mẹ. Thức lựa chọn cha mẹ đúng như hành tốt xấu quy định;
4. Thức sinh danh sắc là toàn bộ tâm lí và vật lí của bào thai mới, dongũ uẩn(sắc, thọ, tưởng, hành, thức) tạo thành;
5. Danh sắc sinh lục căn là các giác quan, sáu căn: nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt, thân, ý(năm giác quan và khả năng suy nghĩ là sáu);
6. Lục căn bắt đầu tiếp xúc với bên ngoài gọi là xúc;
7. Xúc sinh thụ là cảm nhận của con người mới với thế giới bên ngoài;
8. Thụ sinh ái, tham ái, lòng ham muốn xuất phát từ vô minh;
9. Ái sinh thủ là điều cá nhân mới muốn chiếm lấy cho mình;
10. Thủ dẫn đến hữu là tất cả những gì ta gọi là tồn tại, sự sống, thế giới;
11. Hữu dẫn đến sinh, một thế giới và cá nhân mới xuất hiện;
12. Sinh sinh ra lão, tử, vì có sinh nên có hoại diệt

Các tên gọi như Hoằng pháp trượng, Tam bảo trượng, Phục ma trượng, Phổ độ trượng, Nguyệt luân trượng, Khổng minh trượng, Bảo quang trượng, Đại tự tại trượng, Đại bát nhã trượng, Thiên Phật trượng, A la hán trượng… đều mang ý nghĩa tu tập, phổ độ, hướng đến giác ngộ, giải thoát.

Do triết lý về Thiền trượng bao hàm ý niệm từ bi phổ độ nên Trượng vốn vẫn là pháp khí hơn là binh khí. Đức Phật Thích Ca khi tại thế nói với đệ tử rằng: “Năm trăm năm sau khi ta tịch diệt là thời kỳ mạt pháp”. Các chúng thưa: “Bạch Thế tôn, năm trăm năm sau khi ngài tịch diệt là thời kỳ mạt pháp, vàng thau lẫn lộn, thầy giả, thầy thật bất khả phân minh, vậy biết ai là thầy chân chính để mà thờ?”. Đức Phật Thích Ca trả lời: “Lấy giới làm thầy”.

Giới đứng đầu trong ngũ vị hương Phật pháp (giới, định, huệ, giải thoát, giải thoát tri kiến). Có giới sẽ có định, có định sẽ có huệ, có huệ sẽ có giải thoát rồi giải thoát tri kiến chứng quả Bồ đề. Thiền trượng xua tan hết não phiền. Ý nghĩa của Thiền trượng Thiếu Lâm Phật Gia Quyền là như vậy.