Võ sư Trần Xuân Mẫn

Tất cả những thành tựu của con người và những lĩnh vực đạt được của con người đều là văn hoá, trong đó có võ thuật cổ truyền được xem là nghệ thuật chiến đấu truyền thống (traditional martial arts) để dân tộc tồn tại và tiến hoá, để con người phát triển đỉnh cao của nhân cách, phẩm chất, đạt được lối sống cao thượng, thiện-mỹ, cuộc sống ổn định và văn minh.
 
Có một thời, người ta hiểu “văn hoá” đồng nghĩa với “văn”. Hiểu như thế thì “võ” đối xứng với “văn hoá” như các trường hợp sau đây: Rừng văn-biển võ, Nhân văn-Thượng võ,  hoặc:
Nghĩa bỉnh trung thiên vạn cổ cương thường chiêu Vũ liệt
Đức huy Nam cực thiên thu hàn mặc hoán Văn quang
(Nghĩa vững giữa trời muôn thuở cương thường soi gương Võ
Đức ngời Nam cực nghìn thu hàn mặc sáng nền Văn).
Nhưng cũng có lúc “võ” sánh đôi với “văn” khi văn được hiểu là văn hoá, như: Văn thiếu Võ là Văn nhu nhược, Võ thiếu Văn là võ bạo tàn, hoặc:
Khán kiếm hào sinh đảm
Độc thư hương đáo tâm
(Ngắm kiếm sinh gan dạ
Đọc sách hương vào lòng)
 
Trong khi cố tâm tìm hiểu về vấn đề văn hoá và “văn hoá Võ” tôi tìm được hai “cách nói” về văn hoá, hiển thị rất rõ văn hoá Võ, của hai danh nhân như sau:
Chủ tịch Hồ chí Minh cho rằng: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học,nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặt ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa”.
Còn với Thủ tướng Phạm Văn Đồng: “Nói tới văn hoá là nói tới một lĩnh vực vô cùng phong phú và rộng lớn, bao gồm tất cả những gì không phải là thiên nhiên mà liên quan đến con người trong suốt quá trình tồn tại, phát triển, quá trình con người làm nên lịch sử... (văn hoá) bao gồm cả hệ thống giá trị: tư tưởng và tình cảm, đạo đức với phẩm chất, trí tuệ và tài năng, sự nhạy cảm và sự tiếp thu cái mới từ bên ngoài, ý thức bảo vệ tài sản và bản lĩnh của cộng đồng dân tộc, sức đề kháng và sức chiến đấu bảo vệ mình và không ngừng lớn mạnh”
“Văn hoá Võ” có hai phần biểu hiện: Vật thể và Phi vật thể.
Phần Vật thể được bảo quản, lưu truyền chủ yếu trong các gia tộc võ dòng, võ phái, bao gồm: võ đường, sân tập, binh thư, sách võ, binh khí, dụng cụ tập luyện nội, ngoại công phu (như: tạ sắt, bao cát, búa gỗ, bọc thiết sa, vòng thiết tuyến, trụ quấn dây dừa...), dụng cụ chữa trị chấn thương, trật đả (hủ đựng thuốc giầm rượu, băng vải, nẹp gỗ uốn nắn xương khớp...)
Phần Phi vật thể được tâm truyền, khẩu truyền và truyền đạt trực tiếp bằng cách “cầm tay uốn nắn” giữa các thế hệ võ nghiệp, từ đời này sang đời khác, bao gồm: Các bài tập và phương pháp tập quyền cùng tập thập bát ban võ nghệ (18 môn binh khí gồm: côn, kiếm, siêu, đao, cung, kích, xỉ,...), các bài thuốc y võ và phương pháp chữa trị, các lễ lệ, lễ hội...

Picture4.jpg
“Văn hoá Võ” có hai phần biểu hiện là Vật thể và Phi vật thể.
 
Bài tập võ cổ truyền, dù là tập tay không hoặc có sử dụng binh khí, đều có hai phần: “Thảo” và “Thiệu”. Thảo là các động tác được gắn kết với nhau thành “thế”, nhiều thế liên kết với nhau thành bài, nhằm mục đích rèn luyện thể lực, khả năng tự vệ, chiến đấu chống lại đối thủ. “Thiệu” là bài thơ có vần, điệu nhằm mô tả động tác của thảo, đôi khi gói ghém ý nghĩa nhân sinh quan của người sáng tác bài võ muốn truyền đạt lại cho đời sau. Có một số bài võ hay còn được  người đời sáng tác thêm “Phú” để ca ngợi.
Các bài thuốc y võ và phương pháp chữa trị, chủ yếu là uốn nắn, sửa gân, khớp, trật đả do bị chấn thương và bồi dưỡng sức lực trong quá trình tập luyện, thi đấu. Dù vậy, phương dược võ cổ truyền có nhiều bài rất độc đáo, tuyệt hảo trong việc cứu người khỏi tử vong, bệnh tật suốt đời do bị tai nạn.
Lễ lệ là những sinh hoạt truyền thống mang tính giáo dục, có nghi thức đặc thù của “làng” võ, không ghi thành văn tự nhưng theo lệ được các thế hệ võ nghiệp kế truyền từ đời trước sang đời sau. Lễ lệ gồm có: “Cúng Tổ” hằng năm để hội tụ những người cùng theo học một dòng võ, nhằm tỏ bày truyền thống uống nước nhớ nguồn, bàn bạc công việc phát triển võ phái; “Giỗ Thầy” hằng năm để anh em hội tụ về võ đường xưa nhằm tỏ lòng tôn sư trọng đạo và thắt chặc thâm tình giữa những người cùng học một người thầy; “Bái sư”, “Nhập môn” là lệ ra mắt thầy khi đến xin học, bằng một nghi lễ nhỏ, thường là cúng sân với hoa, quả, hương, đèn và con gà trống luộc (ngày nay rất ít võ đường còn duy trì tục lệ này). Ngoài các lễ nghi theo lệ như trên, thỉnh thoảng còn thấy lễ “Gác kiếm” do học trò tổ chức cho những vị thầy đắc thọ và có nhiều công đức trong làng võ, để bày tỏ lòng tri ân trước khi thầy rửa tay, ẩn dật, dứt bỏ chuyện thị phi, trở về cuộc sống điền viên, thanh tâm, quả dục cuối đời.
Lễ hội võ gắn liền với lễ hội dân gian, quy tụ đông đảo người tham gia, người xem và được tổ chức vào các dịp hội hè truyền thống của dân tộc và của từng địa phương. Những lễ hội võ thường thấy là: “Đấu võ” được tổ chức ở một quãng đất rộng, dựng võ đài cao quá đầu và thi thố võ thuật giữa từng cặp võ sĩ cân chạng hoặc không cùng chạng nhưng chấp nhận thách đấu (ngày nay võ sĩ được cân và xếp cùng hạng cân mới được thi đấu); “Đấu vật” là một hình thức đấu võ theo luật đặc thù, qui định chỉ được ôm nhau vật chớ không dùng tay, chân để đấm, đá vào nhau; “Đấu roi” là một hình thức tranh tài cao thấp bằng cách tay cầm roi, chân di chuyển, sử dụng sự khôn ngoan, khép léo, lanh lợi để đâm, bắt, câu, giật... giành điểm thắng lợi. Ngoài ra, “Biểu diễn võ thuật”, “múa lân sư rồng”, chơi “cờ người võ” cũng là những hình thức đóng góp của võ cổ truyền trong lễ hội dân gian, nhằm phô diễn tinh hoa võ thuật, thể hiện tinh thần thượng võ của dân tộc.